Sinh lý và thể chất trẻ sơ sinh - đặc điểm cơ thể sinh học của trẻ.


Khi ôm vào lòng một thiên thần nhỏ đỏ hỏn, mẹ có tự tin là mình đã hình dung đúng và đầy đủ về một em bé sơ sinh? và chắc hẳn các mẹ sẽ rất quan tâm đến cơ thể sinh học của trẻ sơ sinh hoạt động như thế nào?.

Hãy điểm qua những nét chính về sinh lý của một em bé vừa chào đời để so sánh và nhận biết con yêu của mình hoàn toàn bình thường và khỏe mạnh mẹ nhé!

 

1.Hô hấp và thở: Trẻ sơ sinh đủ tháng thở đều, nông, có lúc hơi nhanh, tần số hô hấp khoảng 40-50 lần/phút. Hầu hết trẻ sơ sinh thở hơi khò khè. Các vòng sụn trong ống thở của một số bé còn chưa phát triển hoàn thiện nên khi không khí lưu thông ra vào trong ống thở sẽ gây ra những âm thanh lách tách. Tiếng thở của bé nặng hơn khi bé nằm ngửa hoặc nghiêng.

 

Bạn sẽ thấy bé chủ yếu thở bằng bụng, nhịp thở thường không đều, hơi thở ngắn và nông. Nhưng điều đó cũng chẳng có gì đáng lo ngại cả, bởi công năng của phổi lúc này còn chưa hoàn thiện, hơn nữa, phổi và các cơ quan hô hấp khác của bé sẽ khỏe lên mỗi ngày.

Một điều nữa mà bạn cần biết, đó là ống mũi  của bé lúc này còn nhỏ, niêm mạc mũi khá mỏng, nên chỉ cần một tác động nhỏ từ môi trường cũng có thể làm cho bé bị ngạt mũi, gây khó thở, cản trở việc bú sữa của bé. Nếu bé bú không liên tục, đang bú thì nhè vú ra và khóc, rồi lại quay vào bú, lại khóc... có thể con bạn đang bị nghẹt mũi.

Khí quản của bé sơ sinh còn non yếu, cơ thể chưa tự tiết ra chất đề kháng nên trẻ sơ sinh rất dễ bị viêm phế quản, vì thế bạn cần chú ý giữ ấm cho cổ, ngực và lưng của bé.

Khi nhiệt độ trong phòng quá chênh lệch với nhiệt độ bên ngoài, cha mẹ cần cho bé làm quen dần với sự thay đổi đó trước khi đưa bé vào hoặc ra khỏi phòng. Để thực hiện điều này, bạn có thể để cửa hé mở, bế bé đứng lấp ló trước cửa một chút rồi mới bế bé đi tiếp.

2.Chức năng điều tiết thân nhiệt: của bé chưa hoàn thiện, nếu nằm trong môi trường nóng quá hoặc lạnh quá, bé của bạn sẽ rất dễ bị cảm. Do đó, nhiệt độ phòng thích hợp nhất là khoảng 28-300C. Nếu bạn thấy bé bị lạnh thì cần phải ủ ấm cho bé ngay.

 

3.Sức đề kháng: của trẻ lúc này còn rất yếu, kháng thể chủ yếu được truyền qua nhau lúc còn trong bào thai và qua sữa mẹ những tháng đầu đời. Các bộ phận cơ thể bé còn rất non nớt, vì vậy cần phải chú ý giữ gìn vệ sinh cho trẻ, đặc biệt là cuốn trốn, để tránh bé bị nhiễm khuẩn, nhiễm trùng.

 

4.Tuần hoàn: Nhịp tim của trẻ sơ sinh đều – khoảng 150 lần / phút sau khi sinh và giảm còn 140 lần / phút từ ngày tuổi thứ 10 cho đến hết năm đầu đời. Đôi lúc nhịp tim của trẻ thay đổi do trẻ hoạt động, khóc, cử động nhiều. Huyết áp lúc mới sinh khoảng 6-7 cmHg, đến ngày thứ 5 khoảng 8-9 cmHg. Lượng máu chiếm 10% trọng lượng cơ thể, chỉ số hồng cầu và bạch cầu đều cao so với người lớn – số lượng hồng cầu đạt 5.000.000-5.500.000/mm3 và bắt đầu giảm từ ngày thứ 3; số lượng bạch cầu đạt 10.000 – 15.000/mm3 (nhưng không phải do nhiễm trùng).

 

5.Điều khiển đầu: Trẻ sơ sinh đủ tháng có một số khả năng bẩm sinh để giữ cho đầu mình đứng thẳng, nhưng cơ cổ của bé còn yếu trong khi đầu thì khá to và nặng so với phần còn lại của cơ thể. Nếu bé sơ sinh đủ tháng được bế đứng, bé có thể giữ thẳng đầu với cơ thể trong một giây lát. Khi đặt bé sơ sinh nằm sấp, bé có thể nhấc và chuyển đầu từ phía này sang phía kia.

 

6.Vận động: Trẻ sơ sinh có thể lật bất ngờ do lưng bé còn cong.

 

 

7.Trương lực cơ: Tại thời điểm chào đời, khi bé sơ sinh được kéo dậy giữa tư thế nằm và ngồi, các cơ bắp ở cánh tay, cổ, và vai sẽ tự động nâng đầu của bé lên. Trẻ sơ sinh khi được đặt ở tư thế ngồi (có nâng đỡ) sẽ cố gắng nâng cằm và ngước đầu lên. Khi bé được bế đứng, chân bé sẽ thường duỗi ra ở hông và đầu gối.

 

8.Giác quan: Trẻ sơ sinh có thể cảm thấy đau, cảm nhận được khác biệt giữa nóng và lạnh, nhận biết được giọng nói mà bé đã nghe từ trong bụng mẹ, và nhận biết được mùi hương sữa của mẹ mình.

 

9.Thị giác: Em bé của bạn có thể tập trung giây lát vào vật thể chuyển động ở vị trí trên dưới đường nhìn thẳng của bé một chút, và chỉ nhìn xa được khoảng 20-25cm.

 

10.Thính giác: Bé có xu hướng dừng lại và lắng nghe tiếng nói của con người hơn là các âm thanh khác. Do sự thay đổi của nhịp tim và nhịp thở mà giọng nói của con người thu hút hơn đối với bé.

 

11.Phản xạ: Ngay sau khi sinh, trẻ sơ sinh sẽ nhanh chóng có phản xạ mút và nuốt để có thể bú sữa. Bên cạnh đó, bé còn biết nắm lấy ngón tay bạn khi bạn luồn vào tay bé, và trở mặt nghiêng sang một trong hai bên khi đặt nằm sấp để tránh ngạt thở.

 

12.Tiêu hóa: Khi mới được sinh ra, dạ dày của bé vẫn còn đang nằm ngang, điều đó khiến bé rất dễ bị nôn, trớ.

Không phải em bé nào cũng hay trớ. Tùy theo cơ địa, có bé rất hay bị trớ nhưng lại có những bé ít bị hơn, thậm chí hầu như không trớ bao giờ. Nếu chẳng may em bé của bạn hay bị trớ, việc cần làm là: sau khi cho bé ăn xong, ngoài việc cho bé ợ hơi, bạn nên bế bé trên tay thêm năm - mười phút rồi mới đặt bé nằm.

Men tiêu hóa ở trẻ có sớm, ngay từ khi còn ở trong bào thai, nhưng khả năng tiêu hóa của trẻ còn rất kém, chất lượng và chủng loại men tiết ra chưa đủ.

Dạ dày trẻ tiêu hóa sữa mẹ nhanh hơn sữa bò vì protein sữa bò khó tiêu hóa hơn. Thậm chí có trẻ không thể tiêu hóa được sữa bò vì dị ứng  lactose có chứa trong đó.

 

13.Bài tiết: Trung bình trẻ sơ sinh tiểu tiện từ 10-15 lần / ngày và đại tiện khá thường xuyên – ít nhất là 5 lần / ngày trong tuần đầu tiên sau khi sinh.

Bài tiết cũng là một trong các việc quan trọng của trẻ.Lần đi ngoài đầu tiên của bé sẽ có phân su, đây là chất nhớt của quá trình tiêu hoá và trông có màu xanh đen. Lượng phân su đầu tiên phải được tống ra trong vòng 24 giờ đầu tiên, và thông thường là hai ngày sau bé mới đi cầu lần kế tiếp. Sau ngày thứ tư bé có thể đi ngoài 4-5 lần mỗi ngày.

Trung bình mỗi ngày bé đi tiểu khoảng 20-25 lần, đi ngoài 3-5 lần. Bé bú mẹ thường đi ngoài nhiều hơn, phân cũng khác phân của bé bú sữa ngoài. Phân của bé bú mẹ thường nhuyễn đều, sền sệt, màu vàng kim, hoặc vàng nâu, có mùi chua, trong khi đó phân của bé bú bình thường đặc hơn, có mùi thối, thậm chí có bé bú bình mắc phải chứng táo bón

.

14.Kích thích: Trẻ sơ sinh nhạy cảm với các thay đổi của môi trường quanh chúng. Các kích thước cường độ cao như quá nhiều hình ảnh âm thanh xung quanh sẽ làm trẻ căng thẳng và có thể tác động đến hành vi của trẻ. Các bé sinh non yếu ớt đặc biệt dễ bị tổn thương bởi các kích thích kết hợp như tiếng ồn, di chuyển, và ánh sáng. Ngay cả những cử chỉ xã hội như gương mặt tươi cười quá sát của bố mẹ cũng làm bé sinh non khó chịu.

 

15.Bắt chước: Khoảng 60-70% trẻ sơ sinh có thể bắt chước động tác thè lưỡi khi được diễn tập, khoảng 40-50% trẻ có thể bắt chước động tác há miệng.

 

16.Dấu hiệu và chỉ số thể chất: Dấu bàn chân và dấu vân tay của bé có thể được in lại ở bệnh viện. Trẻ cũng được cân và đo cẩn thận để làm cơ sở theo dõi sự phát triển. Chỉ số thể chất cơ bản của bé sơ sinh đủ tháng như sau:

 

    - Trọng lượng: bé gái từ 2.9 – 3.0kg, bé trai từ 3.0-3.1kg.  

    - Chiều dài: 50cm.   

    - Vòng đầu: 34-35cm.

    - Vòng ngực: 33-34cm.

 

Trên đây là những dấu hiệu cơ bản để bạn đánh giá được thể trạng của con mình, bên cạnh ý kiến của bác sĩ ở nơi bạn sinh con. Ngoài ra, hãy tin vào linh cảm của chính bạn, tình yêu và mối dây liên kết với con sẽ mach bảo bạn rất nhiều.

Ngày cập nhật 2015/10/02 Tác giả: vuoncuabe.com tổng hợp


Sinh lý và thể chất trẻ sơ sinh - đặc điểm cơ thể sinh học của trẻ.

Viết 1 ý kiến

Têncủa bạn:


Ý kiến của bạn: Chú ý: Không hỗ trợ HTML !

Đánh giá: Tệ           Tốt

Vui lòng nhập số vào ô bên dưới:

Reload

Từ khóa:

Facebook Comments ()

vuoncuabe © 2018 Cài đặt bởi WebsiteGiaSoc
Tổng truy cập: 465 | Trong ngày: 465 | Đang online: 3

BACK TO TOP