Những điều cơ bản mẹ bầu cần biết về cao huyết áp trong thai kỳ.


Cao huyết áp trong thai kỳ là một trong các bệnh nguy hiểm đối cả mẹ bầu và thai nhi, tuy nhiên không phải tất cả các mẹ bầu đều hiểu về nguyên nhân và cách phòng ngừa cũng như các triệu chứng về cao huyết áp trong thai kỳ.

1. Định nghĩa tăng huyết áp trong thời kỳ có thai:


Tăng huyết áp thai kỳ xuất hiện từ tuần thứ 20 của thai kỳ và mất đi chậm nhất là 6 tuần sau đẻ, có thể kèm theo protein niệu hoặc phù hoặc cả hai. Bệnh được gọi là tiền sản giật hoặc sản giật (nếu như sản phụ lên cơn co giật và kết thúc bằng hôn mê).


Có bốn nhóm bệnh liên quan đến tăng huyết áp trong thai kỳ: cao huyết áp thai kỳ (chỉ có cao huyết áp đơn thuần), tiền sản giật (gồm cao huyết áp, phù và có đạm trong nước tiểu), cao huyết áp mãn tính (cao huyết áp trước khi mang thai), cao huyết áp mãn tính ghép thêm tiền sản giật. Cao huyết áp thai kỳ và tiền sản giật chỉ xảy ra sau tuần thai thứ 20. Hai bệnh còn lại xảy ra khi dấu hiệu huyết áp xuất hiện trước mang thai hay trước tuần thai thứ 20.


 2. Một số nguyên nhân gây ra chứng cao huyết áp ở thai phụ:


•    Tuổi của sản phụ quá cao (trên 35 tuổi)
•    Dòng họ có người bị bệnh
•    Thai phụ quá cân, trước khi mang thai đã bị bệnh huyết áp cao, viêm thận mãn tính, tiểu đường.
•    Chế độ dinh dưỡng lúc mang thai chưa tốt, kèm theo đó là chứng thiếu máu trầm trọng.
•    Chửa sinh đôi
•    Thai phụ có nước ối quá nhiều
•    Thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh thất thường.

 

 

3. Cách xác định tăng huyết áp trong thời kỳ có thai
 
+ Đối với những thai phụ không biết trước con số huyết áp của mình


Nếu huyết áp đo được lúc nghỉ ngơi ít nhất 15 phút và đo 2 lần cách nhau 2 giờ mà con số huyết áp từ 140/90 trở lên, được gọi là tăng huyết áp.
 

Huyết áp bình thường được thể hiện bằng 2 chỉ số: huyết áp tâm thu (bình thường < 120mmHg ) và huyết áp tâm trương (bình thường < 80mmHg ). Khi huyết áp tâm thu > 140mmHg hoặc huyết áp tâm trương > 90mmHg thì được gọi là cao huyết áp.


+ Đối với những thai phụ biết trước con số huyết áp


Nếu huyết áp tâm thu tăng thêm 30 mmHg và huyết áp tâm trương tăng thêm 15 mmHg thì được coi là tăng huyết áp.


4. Tăng huyết áp trong thời kỳ có thai có đặc điểm:


Có thể tăng cả con số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương.
Có thể chỉ tăng huyết áp tâm thu hoặc chỉ tăng huyết áp tâm trương.
Con số huyết áp trở lại bình thường chậm nhất là 6 tuần sau khi sản phụ sinh con.
Huyết áp có thể tăng và thay đổi theo nhịp sinh học.


 
Triệu chứng lâm sàng của tăng huyết áp


Bệnh tăng huyết áp trong thời kỳ có thai có 3 triệu chứng chính là:


Tăng huyết áp (cách tính như trên).
 
Phù: Có đặc điểm phù mềm, ấn lõm, trắng. Cần phải cân trọng lượng thai phụ khi thấy tăng trên 500 g/1tuần hoặc 2250 g/tháng.
 
Protein niệu: Khi Protein niệu được xem là (+) khi lượng Protein trong nước tiểu ³ 0,3 g/ lit /24giờ hoặc Protein niệu  ³ 0,5 g/lit ở mẫu thử nước tiểu ngẫu nhiên. Lượng Protein niệu càng cao thì phù càng nhiều và bệnh càng nặng.


Các dấu hiệu khác:
 
Bệnh nhân có thể có kèm theo các dấu hiệu khác như:
Dấu hiệu thần kinh: Nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt.
Đau vùng thượng vị: Trong trường hợp nặng, đó là do bao gan bị căng.
Thiếu máu.
Da xanh do thiếu máu.
Xét nghiệm cận lâm sàng
Protêin niệu (đã trình bày phần trên).
Axit uric tăng cao trong thể nặng.
Urê và crêatinin huyết thanh có thể bình thường hoặc tăng cao trong thể nặng.
Các enzyme của gan có thể bình thường hoặc tăng cao trong thể nặng.
Số lượng tiểu cầu có thể bình thường hoặc tăng cao trong thể nặng.
Bilirubin huyết thanh bình thường, nhưng tăng cao trong thể nặng.
Doppler động mạch rốn thai nhi biến đổi, trong trường hợp nặng, tốc độ dòng tâm trương trong máu động mạch rốn bằng 0.
Siêu âm: Lượng nước ối thường ít, thai kém phát triển.

 

Theo dõi nhịp tim thai bằng Monitoring sản khoa:  nhịp tim thai có thể bình thường hoặc “nhịp phẳng” trong trường hợp bệnh nặng. Để đánh giá tình trạng thai nhi trong tử cung có thể kết hợp với  “Test đả kích” như vê núm vú hoặc truyền oxytocin... sẽ thấy nhịp tim thai biến đổi, biểu hiện của suy thai mạn tính và đáp ứng của thai nhi rất kém đối với các kích thích được tạo ra từ các phương tiện thăm dò.


 
Tất cả những dấu hiệu trên là triệu chứng lâm sàng của tiền sản giật nhẹ  (nếu như kèm theo các dấu hiệu  của tăng huyết áp từ 160/110 mmHg trở lên ; Protêin niệu từ 3 g/l trở lên kết hợp với phù và các xét nghiệm hoá sinh tăng cao biểu hiện của suy gan, suy thận, suy tim...Đặc biệt là khi bộ 3 các triệu chứng cận lâm sàng xuất hiện đó là: Bilirubin huyết thanh tăng cao trên 1,2 mg/DL; các enzyme của gan (SGOT, SGPT) tăng cao trên 70 UI/l và số lượng tiểu cầu dưới 100.000 / mm3 máu tạo nên bệnh cảnh lâm sàng của hội chứng HELL (Hemolisio Eluated liver Low Platelets). Một thể tiền sản giật rất nặng mà đa số các tác giả cho rằng phải đình chỉ thai nghén để cứu mẹ.

 

 


5. Cao huyết áp có thể ảnh hưởng lên thai kỳ như thế nào ?

 

Khi thai phụ bị cao huyết áp trong quá trình mang thai sẽ làm cho lượng máu từ mẹ đến bánh nhau bị giảm dẫn đến thai nhi sẽ bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng cần thiết, làm cho sự phát triển của thai nhi trong bụng mẹ sẽ bị chậm lại, thai nhi dễ bị suy dinh dưỡng.


Nếu không kiểm soát được huyết áp, có thể dẫn đến các tai biến cho mẹ (giống như tai biến mạch máu của người bệnh cao huyết áp), do mạch máu bị vỡ dưới áp lực quá cao.


Với con, do tình trạng máu nuôi kém, có thể có thai nhẹ ký hay suy dinh dưỡng, sợ nhất là tình trạng sanh non hay buộc lòng phải cho con ra đời sớm để giảm bệnh lý cho mẹ. Các bệnh lý huyết áp của thai kỳ, đa số giảm rõ rệt sau khi thai sinh ra. Tăng huyết áp trên thai cũng lấy 140/90mmHg là ngưỡng cần dùng thuốc.

 

Làm tăng nguy cơ bong nhau thai ở nơi nhau bám vào thành tử cung. Biến chứng này có thể dẫn đến chảy máu và ảnh hưởng tới việc cung cấp máu và oxy cho thai nhi.


Phát triển thành tăng huyết áp thực sự sau khi sinh bé. Có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch về sau.

 

6. Những diều cần biết

 

1) Người mang thai cần phải coi trọng bảo vệ sức khỏe trong thời gian có thai, tâm tình phải yên đinh, không nghĩ ngợi quá nhiều hao tổn tâm huyết, hoặc làm việc gia đình, hoặc công tác quá mệt mỏi làm tổn thương khí huyết.


 
2) Ăn uống cần phải sạch sẽ ít muối, nhưng giàu dinh dưỡng. Có thể ăn nhiều một sô" thực phẩm có đạm cao, ít mỡ, ích khí bổ thận, thông lợi tiểu tiện như: đỗ đỏ, hạt y dĩ, bí đao (tốt nhất là cả vỏ), dưa chuột, cá chép, cá xanh, cá đen, cá có vây, chạch, cá ao hồ...
 
3) Ngủ phải đầy đủ. Cấm nằm ngửa, tư thế ngủ nằm về hướng trái, như vậy có lợi cho thận và tuần hoàn huyết dịch tử cung.

 

4) Nếu người có thai đã mang gen người nhà có lịch sử mang bệnh trên hoặc người bệnh lại có bệnh thận, bệnh mạch máu và người mang thai cao tuổi hoặc người có nước ối quá nhiều, đều phải đặc biệt chú ý bảo dưỡng trong thời kỳ mang thai, thường xuyên nghe tim thai (phương pháp xem ở mục tim thai nhanh chậm xem trong sách này), phải kiểm tra định kỳ trước khi sinh.


 
5) Kiên trì mỗi ngày đi bách bộ 2 lần, mỗi lần tối thiểu 15 phút, lợi cho khí huyết lưu thông.


 
6) Cấm động phòng.

Ngày cập nhật 2015/02/05 Tác giả: vuoncuabe.com tổng hợp


Những điều cơ bản mẹ bầu cần biết  về cao huyết áp trong thai kỳ.

Viết 1 ý kiến

Têncủa bạn:


Ý kiến của bạn: Chú ý: Không hỗ trợ HTML !

Đánh giá: Tệ           Tốt

Vui lòng nhập số vào ô bên dưới:

Reload

Từ khóa:

Facebook Comments ()

vuoncuabe © 2018 Cài đặt bởi WebsiteGiaSoc
Tổng truy cập: 12.657 | Trong ngày: 184 | Đang online: 3

BACK TO TOP